expr:class='"loading" + data:blog.mobileClass'>
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiệp vụ sư phạm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiệp vụ sư phạm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là gì?
Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định. Phương pháp dạy học đã được nhiều nhà sư phạm định nghĩa, song về bản chất có thể hiểu: “Phương pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa người dạy và người học, nhờ đó mà người học nắm vững được kiến thức, kĩ năng, hình thành thế giới quan và năng lực”. 
- Theo cấu trúc phân tầng của phương pháp dạy học thì phương pháp dạy học ở bình diện trung gian, khái niệm phương pháp dạy học được hiểu với nghĩa hẹp, là phương pháp dạy học cụ thể, thể hiện hình thức, cách thức dạy của người dạy và học của người học nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể.


- Phương pháp dạy học cụ thể quy định các hoạt động của người dạy, người học trong một môi trường dạy học xác lập.
- Nội dung lí luận của phương pháp dạy học là yếu tố tạo ra sự khác biệt về bản chất và mức độ khoa học giữa phương pháp dạy học với kinh nghiệm cá nhân trong dạy học. Bao gồm: sự mô tả toàn bộ nội dung của phương pháp dạy học, từ cơ sở lí luận của phương pháp đến hệ thống các biện pháp tiến hành; từ mục đích, chức năng,tính chất, nguyên tắc, cách thức triển khai các biện pháp đến những gợi ý có tính linh hoạt khi sử dụng các biện pháp dạy học, trong những tình huống phổ biến. Nội dung lí luận của phương pháp cũng đề cập đến những ưu thế và hạn chếcủa phương pháp, phạm vi sử dụng có hiệu quả của nó; những yêu cầu đối với người dạy và người học khi tiến hành phương pháp này; sứ mạng hiện tại và những triển vọng của phương pháp trong tương lai.v.v… Đối với người dạy và người học,việc hiểu sâu sắc và thấu đáo nội dung lí luận của phương pháp sẽ giúp họ có cơ sở vững chắc để triển khai các biện pháp dạy và học trong thực tiễn.



Một số bài viết khác có thể bạn quan tâm
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
6. Quan điểm dạy học theo lý thuyết kiến tạo

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC

Quan điểm dạy học

Quan điểm dạy học là gì?
- Quan điểm dạy học hay là góc nhìn, cách tiếp cận theo trường phái nào đó.
- Là những định hướng tổng thể cho các hành động, con đường hay phương pháp thực hiện. Với sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lý thuyết thuộc lý luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng vai trò của người dạy và người học trong quá trình dạy học.
- Là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học.
- Cấu trúc phân tầng của phương pháp dạy học thể hiện quan điểm dạy học thuộc bình diện vĩ mô, là phương pháp tầng vĩ mô.

- Những quan điểm dạy học phổ biến hiện nay gồm: quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, quan điểm dạy học tích hợp và dạy học phân hóa, các quan điểm dạy học tích cực khác như quan điểm dạy học giải quyết vấn đề, quan điểm dạy học tương tác, quan điểm dạy học theo dự án, quan điểm dạy học theo lý thuyết kiến tạo,... Không có quan điểm dạy học nào là toàn năng, mỗi quan điểm dạy học có những ưu nhược điểm riêng, phù hợp với một số nội dung dạy học nhất định.
Sau đây sẽ đi vào cụ thể một số quan điểm dạy học tích cực:



Một số bài viết khác có thể bạn quan tâm
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
6. Quan điểm dạy học theo lý thuyết kiến tạo

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Tổng quan về nghiệp vụ sư phạm

Cùng với kiến thức chuyên môn dạy học, nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên và sinh viên các trường sư phạm là vấn đề cực kỳ quan trọng để làm nên hình ảnh của người giáo viên.
Nghiệp vụ sư phạm là gì?
Là hệ thống các kỹ năng của giáo viên phối hợp thực hiện để điều khiển các hoạt động dạy học một cách hiệu quả. 
Những kỹ năng cơ bản đó bao gồm:
Trong 5 kỹ năng cơ bản trên đây sẽ lần lượt đi cụ thể vào từng kỹ năng để xem xét các kỹ năng thành phần, từ đó xây dựng các tiêu chí cần đạt cho kỹ năng. Muốn vậy mọi việc phải được bắt đầu từ  nghiên cứu tài liệu tham khảo, rồi trải nghiệm và cuối cùng đi đến những đúc kết cô đọng mang tính dễ hiểu - dễ làm - dễ thành công.
Blog này sẽ cung cấp cho các bạn giáo viên và sinh viên sư phạm những chia sẻ về kiến thức, kinh nghiệm để từ đó mọi người cùng được tự vận dụng, điều chỉnh trong học tập và trong thực tiễn dạy học, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho bản thân, từng bước hoàn thiện, khảng định năng lực dạy học của mình.

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2016

TÀI NGUYÊN RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC


1. Hướng dẫn khai thác và sử dụng phần mềm Microsof Word
1.1.  Văn bản soạn trên word
1.2.  Word nâng cao
1.3.  Tạo mục lục tự động cho tài liệu trên Word
2. Hướng dẫn khai thác và sử dụng phần mềm Microsof Powerpoint
1.1. Cơ bản về Microsof Powerpoint
1.2. Lưu ý trong thiết kế bài giảng bằng Microsof Powerpoint
3. Hướng dẫn một số phần mềm thiết kế bài giảng chuyên nghiệp
3.1. Hướng dẫn tạo bài giảng Elearning bằng iSpring Suite 6.rar
3.2. Hướng dẫn tạo bài giảng điện tử với VIOLET
3.3. Hướng dẫn tạo bài giảng tương tác với ACTIVINSPIRE 
4. Hướng dẫn sử dụng một số phần mềm chỉnh sửa ảnh, video
4.1. Hướng dẫn WINDOWS MOVIE MAKER
4.2. Hướng dẫn sử dụng total video 2013
4.3. Hướng dẫn sử dụng phần mềm sơ đồ tư duy MindManager
5. Hướng dẫn phần cứng máy vi tính
5.1. Hướng dẫn kỹ thuật phần cứng, tháo lắp, nâng cấp máy vi tính của bạn
5.2. Tạo USB boot tự động
5.3. Tích hợp ghost on HDD
5.4. Tích hợp HIRENS BOOT ON HDD
5.5. Sổ tay xử lý sự cố máy vi tính
5.6. Tài liệu hướng dẫn internet
6. Các phần mềm rất cần thiết cho giáo viên
6.1. Violet 1.5
6.2. Violet 1.7
6.2. ACTIVINSPIRE
6.3. iSpring Suite
7. Tài nguyên phần mềm, bài giảng điện tử, giáo án, tư liệu cho một số bộ môn
7.1. Toán THPT
7.2. Toán THCS
7.3. Vật lý THPT
7.4. Vật lý THCS
7.5. Hóa học THPT
7.6. Hóa học THCS
7.7. Sinh học THPT
7.8. Sinh học THCS
7.9. Công nghệ THPT
7.10. Công nghệ THCS
7.11. Địa THCS

Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Thực chất của quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là sử dụng các đa phương tiện nghe nhìn để khuyếch đại, mở rộng khả năng nghe nhìn và trao cho máy các thao tác truyền đạt, xử lý thông tin. Các phương tiện đó được xem như các công cụ lao động trí tuệ mới bao gồm: Máy vi tính, video, máy chiếu qua đầu (over head), máy chiếu tinh thể lỏng (LCD-Projector), máy quay kỹ thuật số, các phần mềm cơ bản: xây dựng thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, CD-ROM,… đặc biệt là mạng Internet. Trong đó máy vi tính đóng vai trò là trung tâm phối hợp, xử lý mọi hình thức thể hiện và thao tác truyền đạt thông tin. Máy vi tính kết hợp với một số phần mềm tạo nên một công cụ hỗ trợ có nhiều chức năng to lớn như: có thể tạo nên, lưu giữ, sắp xếp, sửa đổi, hiển thị lại,… một khối lượng thông tin vô cùng lớn một cách nhanh chóng, dễ thực hiện. Do vậy, máy vi tính được xem như là một công cụ dạy học không thể thiếu trong một xã hội hiện  đại.
Để có được kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, trước hết mỗi giáo viên cần trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng cơ bản để sử dụng máy vi tính với các phần mềm thông dụng như bộ Office, bộ gõ, chuyển đổi font, các phần mềm xây dựng bài giảng điện tử, thiết kế đồ họa, video, khả năng khai thác mạng internet,... Với đặc thù từng bộ môn cần có các phần mềm chuyên dụng  (ví dụ như bộ môn Toán cần khai thác các phần mềm dạy toán như: MathType™, Crocodile Mathematics,... bộ môn lý, hóa cần phần mềm: CROCODILE PHYSICS, CROCODILE CHEMISTRY,...). Ngoài ra còn nhiều những phần mềm rất hay và hữu ích khác để giáo viên có thể khai thác vào dạy học như: phần mềm lược đồ tư duy iMindMap, công cụ vẽ sơ đồ, biểu đò, lược đồ EDGE DIAGRAMMER,...
 Như vậy, kỹ năng cần có để khai thác hiệu quả công nghệ thông tin vào dạy hoc học là:
Kỹ năng sử dụng máy vi tính + ý tưởng thiết kế và xây dựng bài giảng phù hợp tính sư phạm.
Những kỹ năng sử dụng máy vi tính cơ bản cần có đó là:
1. Soạn thảo văn bản thông thạo
2. Tìm kiếm và khai thác thông tin trên mạng
3. Xử lý hình ảnh
4. Xử lý video
5. Tổ chức, sắp xếp và quản lý dữ liệu trên máy tính
Ý tưởng thiết kế - xây dựng bài giảng phù hợp tính sư phạm đó là:
1. Thông tin truyền tải rõ ràng mạch lạc, lôgic
2. Font chữ, độ lớn chữ, hình phù hợp, đảm bảo tính tương phản
3. Mầu nền với cảm xúc, hiệu ứng đơn giản, trình tự xuất hiện thông tin
4. Tiêu đề và ngắt dòng hợp lý
5. Đảm bảo tính tương tác cao.
6. Thẩm mỹ, cuốn hút, tạo hưng phấn.
Sau đây sẽ cung cấp cho các bạn kho tài nguyên để các bạn nghiên cứu, trải nghiệm với các tài liệu hướng dẫn à các phần mềm đan dạng cho các bộ môn.
Chúc các bạn thành công!

Kỹ năng khai thác và sử dụng phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học là những dụng cụ, máy móc, thiết bị công nghệ được sử dụng, khai thác phục vụ cho hoạt động dạy và học, giúp cho quá trình dạy và học đạt chất lượng, hiệu quả hơn.
Hiểu theo cách khác, phương tiện dạy học là những đối tượng vật chất hoặc phi vật chất được giáo viên khai thác, sử dụng như là công cụ để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức cho học sinh nhằm đạt mục tiêu dạy học.
Phương tiện dạy học là toàn bộ các phương tiện có chứa đựng thông tin, phương tiện truyền tin và phương tiện tương tác trong sự hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học.
Trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học là công cụ hỗ trợ cho hoạt động dạy của giáo viên và là công cụ giúp cho học sinh tiếp thu, khám phá kiến thức theo con đường ngắn nhất. Khai thác và sử dụng tối ưu được các phương tiện dạy học thích hợp sẽ giúp cho giáo viên phát huy năng lực sáng tạo trong dạy học, hấp dẫn hơn trong hoạt động nhận thức của học sinh, kích thích hứng thú và nhu cầu học tập của họ.
Nhờ phương tiện dạy học giáo viên tổ chức học sinh tiến hành những tương tác đa dạng, phong phú để tích cực xây dựng bài học, chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng.
Một số chức năng cơ bản của  phương tiện dạy học
Trong quá trình dạy học các chức năng của các phương tiện dạy học phải thể hiện được sự minh họạ, biểu diễn, sự tác động để đạt được mục đích dạy và học. Các phương tiện dạy học có một số chức năng sau:
- Truyền thụ tri thức, giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn
- Hình thành kĩ năng, nhờ phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng, giúp cụ thể hóa những sự việc, vấn đề quá trừu tượng, đơn giản hóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp.
- Phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, ghi nhận và đánh giá kết quả,...), giúp học sinh phát triển nhãn quan thẩm mỹ, tư duy thiết kế.
- Phát triển hứng thú học tập, làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học.
- Định hướng và tổ chức lớp học, phương tiện dạy học giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học. Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh được thuận lợi và có hiệu suất cao.



Những kỹ năng khai thác và sử dụng phương tiện dạy học
Tùy thuộc vào loại hình phương tiện dạy học cụ thể mà cần có kỹ năng khai thác, sử dụng cho hiệu quả. Các phương tiện dạy học phổ biến bao gồm:
1. Máy chiếu các loại (đặc biệt là máy chiếu đa phương tiện - Projecter)
2. Âm li, loa, micro
3. Ti vi, màn hình
4. Máy vi tính
5. Bảng tương tác
6. Đầu DVD, Bluray, HD
Các phương tiện cơ bản thông dụng trên đây muốn có kỹ năng khai thác, sử dụng hiệu quả, trước hết cần có hiểu biết cơ bản về từng loại thiết bị, tiếp đó hiểu và thực hiện được các kết nối giữa các thành phần thiết bị dùng để sử dụng, biết rõ ưu nhược điểm và phạm vi cho phép sử dụng thiết bị. Trên có sở đó tiến hành thực hành, trải nghiệm để từng bước hình thành kỹ năng sử dụng tạo tiền đề cho phát triển năng lực khai thác sử dụng phương tiện dạy học của bản thân.
Dưới đây cung cấp cho các bạn nguồn tài nguyên hỗ trợ việc nghiên cứu, tìm hiểu về các loại phương tiện dạy học.

TÀI NGUYÊN BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC



TÀI NGUYÊN BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

A. Nguồn tài liệu 
1. Khái Quát Chung về sử dụng thiết bị dạy học
2. Bản thảo thiết bị dạy học
3. Hệ thống tăng âm, loa, mic
4. TiVi, màn hình
5. Máy chiếu đa phương tiện
6.  Hướng dẫn sử dụng bảng tương tác
B. Nguồn Video
1. Hướng dẫn sử dụng bảng tương tác
2. Hướng dẫn tạo bài tập với phần mềm ACTIV INSPIRE
3. Hướng dẫn tạo hiệu ứng kính lúp 
4. Hướng dẫn tạo trò chơi kéo thả
5. Hướng dẫn tạo trò chơi thùng chứa
6. Hướng dẫn tạo trò chơi trắc nghiệm
7. Tiết dạy bằng bảng tương tác thông minh
C. Nguồn Phần mềm
1. Phần mềm dạy học tương tác ActivInspire  (phiên bản 1.3)
2. Phần mềm dạy học tương tác ActivInspire (bản cập nhập 1.4)
3. Tài nguyên tiếng việt
4. Một số bài giảng mẫu thực hiện trên phần mềm dạy học tương tác ActivInspire
   4.1. Bài giảng môn Toán
   4.2. Bài giảng môn Tiếng anh
   4.3. Bài giảng môn Ttiếng anh (hay)
   4.4. Bài giảng môn Hóa
   4.5. Bài giảng môn Sinh
   4.6. Bài giảng môn Sử
D. Nguồn tài liệu tham khảo về phương tiện dạy học
1. Máy chiếu Projecter
2. Tài liệu môn phương tiện dạy học
3. Hướng dẫn sử dụng máy ảnh Conon
4. Hướng dẫn sử dụng phương tiện dạy học môn Công nghệ 11
5. Sử dụng phương tiện dạy học trong dạy học kỹ thuật


Kỹ năng trình bày vấn đề, đặt câu hỏi, thuyết trình - hùng biện


Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói trong dạy học đóng vai trò chủ đạo để truyền tải thông tin, điều khiển hoạt động dạy học. Trong đó bao gồm các kỹ năng về giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng hùng biện,.. Sau đẫy sẽ xem xét từng kỹ năng thành phần đó.

1. KĨ NĂNG GIAO TIẾP

Giao tiếp: là khả năng tạo dựng mối quan hệ và khả năng ứng xử của con người trong mối quan hệ với người khác đạt được kết quả cao nhất theo mục tiêu đã xác định.

Phân loại giao tiếp

- Xét theo hoạt động giao tiếp trong xã hội

+ Giao tiếp truyền thống: được thực hiện trên cơ sở các mối quan hệ giữa người và người đã được hình thành trong quá trình phát triển xã hội

+ Giao tiếp chức năng: xuất phát từ sự chuyên môn hóa trong xã hội, ngôn ngữ và hình thức giao tiếp chịu ảnh hưởng của những quy định hành văn hay không hành văn để trở thành quy ước, chuẩn mực và thông lệ chung trong xã hội

+ Giao tiếp tự do: mang nhiều đường nét cá nhân của người giao tiếp, được cảm thụ chủ quan 

như một giá trị tự tại, mục đích tự thân

- Xét về hình thức tính chất giao tiếp

+ Theo khoảng cách tiếp xúc: gồm giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp
+ Theo số người tham dự: giao tiếp song phương, giao tiếp nhóm, giao tiếp xã hội
+ Theo tính chất giao tiếp: giao tiếp chính thức và giao tiếp không chính thức
- Theo đặc điểm của nghề nghiệp: có bao nhiêu hoạt động có bấy nhiêu dạng giao tiếp (giao tiếp sư phạm, giao tiếp kinh doanh, giao tiếp ngoại giao…)
Giao tiếp hiệu quả:
- Trong giao tiếp nên kết hợp cả phương tiện phi ngôn ngữ như: ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ để tăng thêm hiệu quả giao tiếp. Cần lưu ý:
+ Tầm quan trọng của ấn tượng đầu tiên
+ Dùng ánh mắt để “đọc” các gương mặt
+ Thể hiện nét mặt sinh động để hỗ trợ quá trình giao tiếp
+ Đi lại khi nói kết hợp với các cử chỉ, điệu bộ
+ Hướng về phía người đối diện trong khi họ đang phát biểu, nhìn vào mặt họ, gật đầu để thể hiện sự quan tâm đối với điều người khác nói
+ Tỏ ra nhiệt tình, phấn khích để làm lây lan tâm lí, tác động trực tiếp đến người đối diện
+ Tránh những điệu bộ ngó ngoáy không yên, làm những động tác thừa…
- Trong giao tiếp cần lắng nghe một cách tích cực để tăng hiệu quả của giao tiếp
- Để giao tiếp hiệu quả cần biết thuyết phục người khác một cách tích cực, mang tính xây dựng
- Đôi khi phải giao tiếp với người muốn mình làm theo ý của họ

2. KĨ NĂNG THUYẾT TRÌNH Hai yếu tố chính đảm bảo thuyết trình thành công đó là nội dung thuyết trình và kĩ năng truyền tải thông tin.2.1. Nội dung thuyết trình: nội dung thuyết trình phù hợp với đối tượng người nghe với thời gian cho phép và đáp ứng mục tiêu dạy học. Cấu trúc bài thuyết trình logic, ngắn gọn, dễ hiểu, sinh động.
+ Phần mở đầu, kết luận lôi cuốn, thu hút.
+ Phần nội dung chính diễn đạt rõ ý, mỗi ý cần có tiểu kết. Tăng cường câu hỏi kèm theo nội dung.
- Người học biết mình sẽ được nghe nội dung gì? Có hiểu biết ban đầu về nội dung đó càng tốt.
2.2. Kĩ năng truyền tải: Sử dụng ngôn ngữ nói có sự thống nhất giữa nội dung thuyết trình với ngôn ngữ, thái độ, biểu cảm, âm lượng vừa đủ, tốc độ vừa phải, ngữ điệu thay đổi theo các điểm trọng tâm. Kết hợp với ngôn ngữ cơ thể: trang phục phù hợp ngữ cảnh, nét mặt thay đổi theo nội dung bài nói để diễn tả hết ý cần diễn đạt, điệu bộ, cử chỉ, tư thế thể hiện sự quan tâm, nhất trí, hứng thú.



3. KĨ NĂNG ĐẶT CÂU HỎITùy theo mục đích mà việc đặt câu hỏi sẽ thể hiện tính chất như: thúc đẩy khả năng tư duy của người học; thách thức các ý tưởng hiện tại; thăm dò kiến thức người học, khẳng định vấn đề đã được người học hiểu rõ; thu hút người học, tạo ra không khí học tập sống động mà việc đặt câu hỏi cho phù hợp với yêu cầu, vừa sức với đối tượng người học.Các dạng câu hỏi, có hai dạng câu hỏi cơ bản là: câu hỏi đóng có nội dung câu trả lời rõ ràng (ví dụ: Việt Nam có bao nhiêu tỉnh, thành trực thuộc trung ương? Các tính chất của tam giác cân?... Câu hỏi mở là dạng câu hỏi có ý trả lời thể hiện cảm tính, khả năng hiểu và lập luận của người học (ví dụ: Tại sao người Việt nam thông minh, cần cù mà đất nước Việt Nam vẫn nghèo và lạc hậu? Trình bày quan điểm của bạn về mục đích học tập?...) 
4. KỸ NĂNG HÙNG BIỆNTheo Wikipedia thuật hùng biện (tiếng Latin eloquentia) là nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng sao cho trôi chảy, sinh động, trang nhã và đầy sức thuyết phục, thể hiện sức mạnh biểu cảm được bộc lộ qua vẻ đẹp của ngôn ngữ, nhờ đó mà thu hút và thuyết phục người nghe.Các kỹ năng cần có cho hùng biện:4.1. Chuẩn bị chu đáo: tìm hiểu về đối tượng sẽ tham dự, ăn mặc ấn tượng và phù hợp, cũng như chuẩn bị về tâm lý và tác phong giao tiếp. Tuy nhiên, bạn nên nhớ rằng một nền tảng kiến thức sâu rộng mới tạo nên sức mạnh của người hùng biện.4.2. Hãy biết tạo cầu nối giữa người hùng biện với khán giả, hãy giao lưu với khán giả qua ánh mắt và cử chỉ thân thiện, cũng như những ngôn từ giản dị, dễ hiểu, pha chút hài hước nhẹ nhàng.4.3. Trình bày ngắn gọn và thuyết phục: đôi khi bạn chỉ có 5 phút cho phần trình bày, nhưng bạn hãy tự tin là sẽ truyền đạt được thông tin cần thiết, do đó không nên xin lỗi khán giả trước hay đề cập đến việc bạn không có nhiều thời gian. Hãy vào đề ngay và chia nhỏ nội dung để bài thuyết trình được mạch lạc.4.4. Đi thẳng vào những nội dung quan trọng: đừng nói lan man làm thính giả không hiểu bạn muốn nhấn mạnh vấn đề gì, nội dung chủ yếu mà bạn muốn nói đến là gì. Bạn hãy tập trung ngay vào những nội dung quan trọng mà bạn biết chắc chắn sẽ giúp bạn giành được sự chú ý và thuyết phục khán giả. Cũng không nên níu kéo mọi người để “cho phép tôi bổ sung...”.4.5. Điều chỉnh giọng nói: Kể cả khi bạn có ít thời gian, bạn cũng không nhất thiết phải nói thật nhanh, bởi như thế sẽ khiến khán giả khó bắt kịp nội dung, chưa kể người nói nhanh hay vô tình tạo cho người nghe cảm giác về sự thiếu trung thực. Có thể bạn sẽ thuyết phục và lôi cuốn khán giả hơn, khi bạn nói ở tốc độ vừa phải, có giọng điệu tự tin, phát âm chuẩn và rõ ràng, nhấn mạnh từng từ và xen kẽ một vài khoảng lặng khi bạn muốn mọi người tập trung hơn.4.6. Minh họa: Nếu có một số vấn đề khó diễn đạt hoặc bạn cảm thấy cần làm rõ thêm, bạn hãy minh họa bằng các ví dụ hay câu chuyện ngắn gọn, súc tích, hoặc trích dẫn những tình tiết tiêu biểu nào đó, giúp khán giả hình dung rõ ràng và cụ thể hơn về điều bạn muốn nói. Bên cạnh đó, những câu chuyện dí dóm sẽ giúp bạn làm dịu không khí long trọng hay căng thẳng. Tuy nhiên, “Trào phúng như muối – hãy dùng cẩn thận”. Nếu quá lạm dụng những câu chuyện như thế, bạn sẽ mất nhiều thời gian và còn bị thính giả đánh giá là người thiếu nghiêm túc. 4.7. Kỹ năng dàn dựng và sử dụng PowerPoint: bằng cách sử dụng PowerPoint, bạn có thể tạo nên một bộ khung hoàn chỉnh và minh họa bản hùng biện của mình.4.8. Luyện tập trước: Bạn nên luyện tập trước một tấm gương lớn hoặc nhờ bạn bè, đồng nghiệp nghe và góp ý. Điều đó sẽ giúp bạn có phong cách tự tin và cuốn hút hơn, cũng như nắm vững những nội dung cần hùng biện, đặc biệt là điều khiển tốc độ nói để ước lượng thời gian.Nên nhớ là tâm lý bình tĩnh và tự tin sẽ giúp bạn làm chủ được bản thân để thực hiện thành công. 

Bài hùng biện cuộc thi chống biến đổi khí hậu

Đạt giải phần hùng biện hay nhất

Chủ đề: Rừng có vai trò như thế nào dối với biến đổi khí hậu?



Kính thưa: BGK

Kính thưa: Các quí vị và các bạn.

Nhân loại đang tiến những bước dài trên những thành tựu của khoa học kĩ thuật song cũng để lại không ít những hậu quả nghiêm trọng và một trong số đó chính là biến đổi khí hậu - một thách thức toàn cầu lâu dài và to lớn. Điều đó đặt ra những vấn đề nan giải về công lí và quyền con người cả trong từng thế hệ và từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là một mối đe dọa chứ không phải là một thực tế cuộc sống tiền định. Và một trong những vấn đề có tác động trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu mà tôi muốn chia sẻ với quí vị và các bạn hôm nay chính là vai trò của rừng.

Rừng giữ vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ sự sống. Rừng cây xanh bạt ngàn là lá phổi khổng lồ thanh lọc không khí cung cấp nguồn dưỡng khí duy trì sự sống cho con người. Có loại rừng chắn gió chắn cát ven biển, có loại rừng ngăn nước lũ trên núi, rừng giúp con người hạn chế thiên tai. Đặc biệt rừng là khu bảo tồn thiên nhiên vô giá với hàng ngàn loài chim, loài thú quí giá, là nguồn đề tài nghiên cứu bất tận cho các nhà sinh vật học. Đối với dân tộc Việt Nam, rừng còn gắn chặt với từng chặng đường lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, rừng trở thành căn cứ cách mạng: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Trong thời bình, rừng là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng, là điểm tham quan du lịch của mọi người.

Thế nhưng có một thực tế đang đe dọa nhân loại đó là rừng đang bị tàn phá một cách nặng nề. Ở Việt Nam, một đất nước có ¾  diện tích là đồi núi thế nhưng tính đến thời điểm hiện tại rừng phủ xanh chỉ còn chiếm 24,6% diên tích cả nước. Đây thực sự là  mộtvấn đề nghiêm trọng, sự tàn phá của rừng kéo theo hàng loạt những hệ quả như thiên tai, lũ lụt, hạn hán… Và chính những điều đó đã tác động trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu.
Thưa quí vị, thưa các bạn!
Khai thác rừng để phục vụ cuộc sống con người là cần thiết, nhưng muốn hưởng lợi ích lâu dài thì con người cần phải biết bảo vệ rừng. Cùng với việc chặt phá cây lấy gỗ, chúng ta phải biết trồng cây, gây rừng. Khai thác lâm sản phải có kế hoạch, có mức độ, nếu không, chẳng mấy chốc mà tài nguyên rừng cạn kiệt. Khi đó, thử hỏi con người lấy gì để chống đỡ với gió cát, nước lũ … lấy đâu ra rừng vàng biển bạc cho con cháu mai sau?
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá này? Một trong những yếu tố quyết định chính là những chính sách hợp lí và hiệu quả của Nhà nước đối với công tác môi trường nói chung và bảo vệ rừng nói riêng. Để bảo vệ rừng, Nhà nước ta đã có pháp lệnh cụ thể về khai thác rừng. Với sự ủng hộ của các tổ chức bảo vệ môi trường trên thế giới, phong trào thực hiên vườn rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc…đang được tiến hành rộng khắp. Chúng ta hi vọng rằng rừng Việt Nam sẽ được bảo tồn và ngày càng phát triển. Bên cạnh đó cần phải nâng cao ý thức của người dân về việc trồng và bảo vệ rừng.
Tôi nhớ đến lời của một bài hát “Dù lên rừng hay xuống biển. Vượt bão giông vượt gian khổ. Tuổi trẻ kề vai vững vàng chân bước bạn ơi”. Chúng ta những thanh niên của thời đại mới trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
(Nguyễn Thị Huế - Văn K43A)

Tham khảo bởi; https://ppdh.wikispaces.com/

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2016

Kỹ năng viết, vẽ và trình bày bảng


Kỹ năng viết, vẽ và trình bày bảng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng niềm tin và hứng thú ở người học, chính vì vậy ở mỗi giáo viên và sinh viên sư phạm cần chú ý rèn luyện để thực hiện tốt kỹ năng này.


1. Quan sát và kiểm tra bảng: Ở bước này phải chắc là mặt bảng sạch, bảng đã được bắt cố định, chắc chắn không rung. Đồng thời giáo viên cũng nên lập dàn ý nội dung viết chính xác, dự kiến cách bố trí nội dung lên bảng.
2. Chia bảng (bố cục bảng): Tùy theo đặc thù môn học, cũng như kích thước bảng cụ thể mà phân chia bảng cho phù hợp. Thông thường đều chia thành ba phần đều nhau bằng phấn. Việc phân chia này sẽ đảm bảo các nội dung giáo viên trình bày trên bảng là đầy đủ, khoa học. Nếu ở phòng học có lắp màn chiếu chiếm một phần diện tích bảng thì quá trình sử dụng đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa giữa màn chiếu và bảng tránh trường hợp một phần bảng bị lãng phí.
3. Sử dụng bảng: Với việc đã phân chia bảng thành 3 phần riêng biệt như trên thì trong quá trình trình bày bảng giáo viên nên lưu ý:
- Phần giữa bảng bên trên ghi tên bài. Ghi bằng chữ in hoặc chữ thường cỡ chữ to, có thể dùng phấn màu gạch chân tên bài giảng.
- Phần bên trái bảng viết dàn bài, giữ cố định không xóa (trong suốt quá trình giảng bài). Đây được xác định như xương sống của bài giảng. Bài học gồm những nội dung cơ bản nào được liệt kê và ghi rõ vào đây. Với những nội dung bài giảng cụ thể, ngoài việc kết hợp các phương pháp giảng dạy khác nhau và những phương tiện kỹ thuật cần thiết thì việc giáo viên ghi những đề mục, dàn bài lên bảng sẽ đảm bảo việc ghi nhớ cho người học sau tiết giảng vì người học có thể ghi và lưu giữ kiến thức bài học thông qua những nội dung, dàn ý này.
- Phần giữa bảng dùng để giải thích, vẽ, phân tích, xóa thường xuyên. Những kiến thức liên quan, những công thức, các đại lượng liên quan đến nội dung giảng dạy được giáo viên sử dụng và thể hiện ở nội dung phần trung tâm của bảng như công thức tính cường độ dòng điện, công thức tính số vòng quay trục chính khi khoan v.v... Việc viết công thức kết hợp giải thích các đại lượng trong công thức sẽ làm rõ hơn, minh họa đầy đủ hơn nội dung giảng dạy.
- Phần bên phải bảng ghi từ khóa, công thức hoặc ý tưởng quan trọng của chủ đề, học sinh làm bài tập. Với những nội dung giảng dạy mang tính chất bản lề làm tiền đề vào nội dung bài mới như kiểm tra bài cũ, hay hệ thống bài được dành thực hiện ở phần bảng này. Phần thực hiện của học sinh sẽ được lưu giữ làm cơ sở so sánh với nội dung bài học trước (hệ thống bài) hoặc làm cơ sở để phát triển nội dung bài học mới.
4. Viết bảng: Nghệ thuật trình bày của giáo viên được thể hiện qua việc viết và trình bày nội dung trên bảng. Trong quá trình trình bày bảng cần bảo đảm các yêu cầu sau:
- Chữ viết, hình vẽ phải rõ ràng đủ để mọi người quan sát được
- Ghi bảng đẹp, gọn, tập trung và bám lấy trọng tâm.
- Làm nổi bật tên bài và các đề mục
+ Tên bài: Ghi chữ in hoặc chữ thường cỡ chữ to…
+ Đề mục: gạch chân, viết đậm…, khi đánh đề mục thì mục nhỏ lùi sâu hơn so với mục lớn theo thứ tự: I, 1, a,“–“, “+”, “.”.
- Giáo viên đứng xa bảng (khoảng 20 cm) và đứng sang một bên để tận dụng được ánh sáng, bảo đảm người học dễ quan sát, ghi chép và giáo viên quan sát lại được người học.
- Cầm phấn thoải mái, khi viết bảng xoay đầu phấn theo chiều kim đồng hồ.
5. Vẽ trên bảng: Nên vẽ phác trước, chỉ vẽ những hình đơn giản, đối với hình, sơ đồ phức tạp có thể chuẩn bị vẽ, in ra giấy khổ lớn, hoặc sử dụng máy chiếu.
 6. Xóa bảng: Đây có thể là công việc tưởng chừng đơn giản nhất nhưng cũng có nhiều tình huống dạy học đã xảy ra do bạn thực hiện không đúng nguyên tắc này. Bạn thử hình dung khi mới bắt đầu vào lớp bảng chưa được xóa, phía dưới có đoàn dự giờ. Chúng ta sẽ xóa bảng bắt đầu ở đâu? Ở giữa, bên trái hay bên phải của bảng? Nếu chúng ta xóa từ giữa hay từ bên phải bảng trước rồi mới xóa bên trái thì bạn sẽ phải chờ cho bảng khô trong một khoảng thời gian rồi mới viết bảng được. Theo nguyên tắc là những nơi nào xóa trước sẽ khô trước và chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc xóa từ trên xuống và từ trái sang phải như vậy sẽ đảm bảo chắc chắn bảng của bạn luôn ở tư thế sẵn sàng cho bạn viết, vẽ đồng thời chúng ta cũng thực hiện xóa ngang hoặc dọc bảng.
Những nội dung chia sẻ trên đây không mới, hi vọng sẽ giúp những giáo viên trẻ thực hiện tốt để góp phần vào thành công bài giảng của mình
.

Theo Lê Văn Tuân - Trường Cao đẳng dạy nghề Thanh Hóa
http://thanhhoavci.edu.vn/vi/news/Khoa-giao-duc-chinh-tri-phap-luat-va-ngoai-ngu/Nhung-nguyen-tac-co-ban-khi-trinh-bay-bang-132/